Đường phố Thành Nam: Phố Phạm Văn Xô
Cập nhật lúc09:06, Thứ Sáu, 15/05/2015 (GMT+7)

Phố Phạm Văn Xô dài 466m, rộng 15m, địa giới từ đường D7 đến đường N10, thuộc địa bàn phường Lộc Hạ.

Phạm Văn Xô (1910-2005) tên thật là Trần Văn Đạt sinh tại thôn Phú Cốc (nay thuộc xã Minh Thuận), huyện Vụ Bản trong một gia đình nông dân nghèo. Ông tham gia cách mạng năm 1930 và được kết nạp Đảng năm 1931. Sau khi vào Đảng, ông được giao nhiệm vụ gây quỹ hoạt động cho Đảng. Ông là một trong 13 đại biểu dự Đại hội Đảng lần thứ nhất ở Ma Cao và được bầu vào Trung ương Đảng. Theo sự phân công của tổ chức, ông đi khắp nơi để xây dựng cơ sở hoạt động, từ Lào sang Thái Lan đến Căm-pu-chia. Do hoạt động lặng lẽ, thiên về gây quỹ và xây dựng cơ sở, lại không ở trong nước nên ông thoát khỏi những đợt cao điểm truy bắt của thực dân Pháp. Từ năm 1935 đến 1945, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Viên Chăn, rồi Bí thư Xứ ủy Lào. Năm 1945 đến 1946, ông giữ chức Ủy viên thường vụ Đặc ủy Đảng bộ Việt kiều và tham gia tổ chức các Chi đội Hải ngoại về Việt Nam chiến đấu chống quân Pháp tái chiếm Đông Dương. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông giữ các chức vụ Bí thư Đảng bộ Tây Bắc Cao Miên, Phó Bí thư toàn Miên. Năm 1954, theo chỉ thị của tổ chức, ông trở về hoạt động bí mật ở miền Nam với chức vụ Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Trong thời gian này, ông lấy bí danh là Trần Văn Tư (hay Tư Thường). Đến cuối năm 1956, nhận thấy tình hình thực hiện Hiệp định đình chiến năm 1954 không thuận lợi, phong trào bị đàn áp, nhiều Xứ ủy viên bị bắt tại thành phố, theo sự chỉ đạo của cấp trên, ông dời Xứ ủy Nam Bộ ra khỏi Sài Gòn, cùng toàn bộ cơ quan Xứ ủy Nam Bộ tạm thời sang đóng tại Nam Vang. Cũng từ đó, ông đổi sang bí danh Phạm Văn Xô (hay Hai Xô). Bí danh này trở thành tên gọi của ông cho đến cuối đời. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (từ 5 đến 10-9-1960), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương; sau đó được phân công tham gia Trung ương Cục miền Nam, giữ chức vụ Ủy viên Thường vụ rồi Phó Bí thư, phụ trách về căn cứ và kinh tài, kiêm Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Cục. Sau năm 1975, ông được phân công làm Phó Chủ nhiệm UBKT Trung ương Đảng. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương khác./.

Hồng Minh

,
,
.
,
,
,
,